Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

Bàn về tỷ suất lợi nhuận năm 2014 của các thành viên Vfpress

Đọc topic này hai lần vì nó quá nhiều thông tin hot và tự thấy phải viết vài dòng chia sẻ suy nghĩ:

1. Chỉ có 10% lỗ, 7% hòa, và hơn 80% có lãi !?

Tại sao nhiều người lãi, và ít người lỗ quá, mà thống kê thì vẫn nói tham gia thị trường chỉ 2-3 phần lời, 7-8 phần lỗ. VFers ngoại lệ sao?

Nhưng nghĩ lại nếu cả năm qua mình lỗ, chắc mình chả có tâm trí đâu mà vote, có khi còn ko thèm vào đọc mục này. Nhưng nếu lãi, đặc biệt là lãi to thì hẳn mình sẽ rất vui và muốn khoe thành tích ấy. Vậy là tỷ lệ này ko đại diện cho thị trường chung. Nếu mở thêm topic: "Tôi đã thua lỗ như thế nào trong năm 2013 và những bài học rút ra!", có lẽ sẽ thêm nhiều người chia sẻ bài học thất bại. Mà học từ sai lầm là cách nhanh nhất để cải thiện hiệu quả đầu tư.

2. Cảm giác choáng ngợp với mức LN của một số cao thủ !

Sau đó thấy như máu chảy mạnh hơn. Muốn nhảy ngay vào thi thố để vượt qua các mức xà mà các cao thủ khác đã vượt. Bắt đầu nghĩ về các lần lỡ cơ hội, bán sớm, ko dùng đòn bảy,... Tự nhủ mình phải cố gắng nhiều hơn nữa, mà thông thường sẽ là phải quyết liệt hơn (trong việc dùng đòn bảy), nhạy bén và mua bán thường xuyên hơn (để không lỡ một cơ hội nào).

Nhưng có gì đó dường như không ổn. Các huyền thoại đầu tư thế giới hồi trẻ cũng chỉ đạt lợi nhuận bình quân 40-50%/năm, và cả đời đầu tư là 25-30%/năm. Các cụ luôn khuyên hậu bối là không nên mua bán quá nhiều và hạn chế dùng đòn bảy. Đặt ra những mục tiêu cao hơn mức các huyền thoại đã làm được, thậm chí cao hơn vài lần, thì hoặc là ta thành huyền thoại thật, hoặc là ta mắc chứng hoang tưởng rồi.

Trăm năm qua, trong hàng tỷ người chỉ có vài huyền thoại ĐT. Oh, thế là rõ lắm rồi.

Thôi ta trở về với mục tiêu cũ của ta: cố gắng đề hàng năm đều vượt qua ... bản thân mình! ;)

Read more: http://vfpress.vn/threads/2013-ty-suat-loi-nhuan-cua-ban-la-bao-nhieu.95857/page-5#ixzz2pDEWBy8Q

Thứ Tư, 1 tháng 1, 2014

2014 - Đi tìm sự sống trong cõi chết

VNindex tăng 22%, HNXindex tăng 18.7%.

2013 là năm đầu tiên kể từ giai đoạn 2005-2006, Vnindex trụ vững trên đường xu hướng dài hạn SMA200 trong suốt cả năm!

Những “chiến binh cuối cùng” dù theo trường phái đầu tư hay đầu cơ, cơ bản hay kỹ thuật đều có những cơ hội của riêng mình. Theo tỷ lệ voting trên VF, đa số NĐT đã có một năm thắng lợi.

Đó đều là những biểu hiện của một uptrend dài hạn.

The big picture

Năm 2013 dù còn những lời hứa và kế hoạch chưa hoàn tất, NHNN và CP đã thành công trong việc ổn định KT vĩ mô:

- Lạm phát và Lãi suất giảm và ổn định ở mức thấp,
- Tỷ giá ổn định,
- Hệ thống ngân hàng cải thiện thanh khoản, ổn định hệ thống, bắt đầu xử lý nợ xấu nhờ VAMC và sự ấm lên của TT BĐS,
- Chi tiêu công được nới lỏng để kích cầu trong điều kiện ngân sách rất eo hẹp.

Trên góc độ thị trường, tâm lý DN và NĐT đã bớt bi quan chán nản, dần thay đổi chiến lược từ co cụm phòng thủ sang chủ động mở rộng, đầu tư. Tín dụng tăng trưởng hợp lý và dòng vốn tìm tới khu vực sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội. BĐS đang tạo đáy với thanh khoản cải thiện, TTCK đi lên bền vững.

Trong khi đó, Kinh tế thế giới được dự báo sẽ ổn định hơn với đà phục hồi tại Mỹ, Nhật, EU, và suy giảm nhẹ tại TQ.






Có thể nói 2013 là năm cuối cùng của Mùa Đông kéo dài từ 2010. Dù tin hay không, các tín hiệu vĩ mô và vi mô đang báo hiệu 2014 là năm khởi đầu cho một Mùa Xuân mới.

KL số 1: Trong mùa Xuân, Cổ phiếu và sau đó là BĐS là hai kênh đầu tư mang lại hiệu quả cao nhất.

Thị trường CK

Trong giai đoạn đầu của chu kỳ phục hồi, các chỉ báo vĩ mô như Lãi suất, Tỷ giá, tăng trưởng tín dụng,… sẽ tiếp tục ổn định (đồng nghĩa với không còn nhiều cải thiện như 2013). Nhóm chính sách vĩ mô được chờ đợi trong năm 2014 sẽ là nới thêm đầu tư công, gia nhập TPP, cởi mở hơn cho dòng vốn ngoại sở hữu các tài sản như CP, BĐS…

Tác động của nhóm chính sách này lên TTCK là tích cực nhưng khá cục bộ. Và TTCK lại cần những biến động vĩ mô mạnh để có sóng lớn. Ngoài ra, định giá toàn thị trường của CKVN đã không còn rẻ sau khi nhóm CP vốn hóa lớn tăng mạnh trong năm 2013.

KL số 2: VNindex 2014 sẽ tăng ... nhẹ và trong biên độ hẹp: 480-560(nếu phải đoán mò :) ). 

Điều ấy đồng nghĩa với rủi ro thị trường chung không cao, nhưng tìm kiếm lợi nhuận lớn cũng rất khó khăn. Cơ hội đột biến sẽ khó tìm hơn và không nằm ở nhóm CP vốn hóa lớn, hay ngành nghề ổn định đã được “rerate” mạnh về định giá.

Với trường phái index trading, chiến lược sideway trade mua khi breakdown và bán lúc breakout áp dụng trong 2013 vẫn còn nguyên giá trị. Nhưng dành thêm thời gian đào sâu nghiên cứu để chọn đúng CP sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.

KL số 3: Trong môi trường vĩ mô bình ổn, thành bại là tại vi mô. Thị trường tiếp tục phân hóa mạnh mẽ và sóng sẽ chỉ cuộn ở đáy sông.

Loại trừ top 5 CP vốn hóa lớn nhất ở tất cả các thị trường, ta lại thấy một bức tranh hoàn toàn khác: định giá đa số CP trên TT vẫn rất hấp dẫn.


Nhiều cơ hội đầu tư tốt sẽ nằm ở nhóm vốn hóa trung bình, có hoạt động cốt lõi vững vàng, có cơ hội tăng trưởng DT, LN đồng thời định giá vẫn thấp để được thị trường "rerate" lại.

Cơ hội đột biến nằm ở nhóm… độc hại, vẫn đang ở vùng đáy khó khăn nhất. Ở đó ranh giới giữa sống và chết vẫn rất mong manh. Giá CP đã giảm trên 90% từ đỉnh, và chỉ một chút bớt xấu rồi tốt nhẹ cũng đủ làm cổ phiếu tăng mạnh. Tuy vậy, chọn lựa được CP thực sự sẽ có cải thiện và phục hồi là việc không dễ dàng. Nó đòi hỏi hiểu biết sâu sắc về doanh nghiệp và khả năng cập nhật thông tin nhanh nhạy để dự báo được chính xác các chuyển biến vi mô phía trong.

Nhớ lại cuộc trao đổi thú vị với David O’neil của Asean Small Cap Fund hồi cuối 2011, có một câu mà tôi nhớ mãi: “Rồi mày xem, chỉ không tới 5% DN niêm yết sẽ phá sản sau khủng hoảng. Các nước Châu Á có cách giải quyết khủng hoảng và đổ vỡ khác hẳn Âu Mỹ. Muốn ăn bằng lần thì mày phải tìm trong nhóm vốn hóa nhỏ và trung bình, bị ảnh hưởng mạnh nhất từ khủng hoảng”. (tạm dịch)
Vận vào câu nói bất hủ của Soros: “The worse a situation becomes, the less it takes to turn it around, and the bigger the upside”.

Nếu 2013 là năm tìm về với giá trị thực, thì 2014 đối với tôi là năm phù hợp để bắt đầu đi tìm sự sống trong cõi chết.

Được vinh dự mở đầu chủ đề tháng cho 2014, tôi xin phép được gửi lời chúc mừng năm mới tới toàn thể anh chị em thành viên diễn đàn. Chúc các Vfer tiếp tục có một năm 2014 đại thắng!


http://vfpress.vn/threads/2014-di-tim-su-song-trong-coi-chet.95819/#ixzz2pDJdYRGN

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2012

Vinasun (VNS) - Mặt trời phương Nam


Tôi ngồi café lướt VFPress một ngày đông lạnh cuối năm 2012. Hồ Huy: “Thua lỗ do chúng tôi sai lầm!”. Thua lỗ và phá sản đã quá đỗi quen thuộc vài năm gần đây. Nhưng sự thừa nhận thất bại của người đứng đầu ngành vẫn luôn là điều rất đặc biệt.

Tôi nhớ những chuyến đi Sài Gòn từ 2007 về trước, Mai Linh luôn là lựa chọn số một cho khách đi taxi. Với số lượng vượt trội và đội xe Toyota mới đồng đều, Mai Linh hoàn toàn áp đảo các thương hiệu đàn em khác như Sài Gòn Tourist, Petrolimex, Comfort, Hoàng Long, Phương Trang, Vina vàng, Vinasun,... Trong lần tới Sài Gòn tháng 12/2012 vừa rồi, tôi đếm đầu taxi sau mỗi nhịp đèn giao thông và tỷ lệ taxi Vinasun gần như gấp đôi so với tất cả các hãng khác cộng lại!

Báo chí nói nhiều về những đầu tư ngoài ngành và tăng trưởng dàn trải của Mai Linh dẫn đến mất cân đối dòng tiền và vỡ nợ. Nhưng sau những lần được gặp các anh chị lãnh đạo Vinasun từ giữa 2009, tôi đã tin rằng đế chế Mai Linh sẽ suy tàn. Mai Linh sẽ thua ngay tại ngành nghề cốt lõi, ngay tại Sài Gòn, thành trì quan trọng nhất.

Người lãnh đạo và văn hóa doanh nghiệp:

Gia đình anh Đặng Phước Thành, chủ của Vinasun, có truyền thống làm dịch vụ từ lâu với những nhà hàng Hai Lúa, Tràm Chim nổi tiếng Sài Gòn và rất thành công. Ai đã từng tới những nhà hàng này đều phải thán phục sự hiểu biết sâu sắc nhu cầu khách hàng của ông chủ ;). Công thức kinh doanh độc đáo này sau đó được nhiều nhà hàng khác copy. Mỗi lần được tiếp xúc với anh Thành và ban lãnh đạo của Vinasun là một lần tôi học được rất nhiều về văn hóa phục vụ cũng như quản trị doanh nghiệp. Làm dịch vụ quả thực rất khó, nhất là khi đối tượng phục vụ là cả xã hội.

Anh Thành đã xây dựng được quanh mình một đội ngũ lãnh đạo hùng hậu chuyên trách các mảng từ quản lý, kinh doanh, tài chính, nhân sự đào tạo, quan hệ,… Cảm nhận chung là các anh chị luôn đầy năng lượng, làm việc hết mình vì công ty. Trong hơn 3 năm theo dõi, tôi chưa thấy có vị trí chủ chốt nào trong ban lãnh đạo từ nhiệm. Tỷ lệ chia hoa hồng cho tài xế của Vinasun cũng ở mức cao nhất trên thị trường. Tài xế thu nhập 15-20tr/tháng không phải là chuyện hiếm. Rất khó tìm được tài xế Vinasun chuyển qua lái cho hãng khác, trường hợp ngược lại khá phổ biến. Việc phân chia lợi ích giữa công ty với khách hàng, chủ doanh nghiệp với người làm thuê luôn là bài toán khó. Nhưng hiệu quả kinh doanh cao nhất trong ngành cho phép Vinasun giải quyết thỏa đáng mâu thuẫn lợi ích ấy với triết lý win-win.

Tôi tới cuộc hẹn lần đầu với anh Minh, Phó tổng phụ trách KD của Vinasun, tại văn phòng công ty cách đây hơn 3 năm. Đó là một tòa nhà nhỏ trên đường Điện Biên Phủ, khiêm nhường giản dị với vách ngăn khung nhôm kính và diện tích khá nhỏ so với một tổng hành dinh điều hành hàng ngàn xe với hơn 6000 nhân viên. Tôi luôn có cảm tình với những văn phòng điều hành giản dị vì nó đi liền với chi phí thấp và hiệu quả cao cho đồng vốn cổ đông. Văn phòng hiện nay của Công ty nằm tại Vinasun Tower Q5, đã khang trang, to đẹp, phù hợp với quy mô 4500 xe, 14000 nhân viên, 2500 tỷ doanh thu, 1800 tỷ tổng tài sản hiện nay.

Chiến lược và chiến thuật cạnh tranh: 

Bước tiến quân thần tốc: Vinasun bắt đầu tham gia vào thị trường taxi từ 2003 với 8 tỷ vốn đầu tư ban đầu và tăng lên 16 tỷ vào 2006. Đội xe ban đầu chỉ 27 so với con số 4500 sau chưa đầy 10 năm. Trong ngành kinh doanh đặc thù này, quy mô là yếu tố sống còn. Không ai muốn gọi taxi để phải chờ quá 5’. Khi đã vào cuộc chiến taxi tại Sài Gòn, quy mô dưới 2000 xe thì không có cách nào để chiến thắng.

Vinasun đã tận dụng rất tốt thời điểm kinh tế và TTCK bùng nổ 2006-2009 để gia tăng đội xe tại các thị trường trọng yếu nhất Sài Gòn, Đồng Nai, Bình Dương. Để làm được việc này gia đình anh Thành đã chấp nhận giảm tỷ lệ sở hữu xuống thông qua những đợt huy động vốn từ các cổ đông bên ngoài, gia tăng đòn bảy tài chính, và thanh lý BĐS. Đối với taxi cũng như rất nhiều ngành kinh doanh từ NH tới CK, xi măng tới sắt thép, thực phẩm tới tôm cá…, cơ hội để vươn lên top dẫn đầu chỉ đến một lần duy nhất. Khi thị trường đi vào ổn định, chợ đã có soái, thì chi phí vào cửa cũng trở nên quá đắt đỏ chứ đừng nói tới chuyện vươn lên top 1, 2, 3.

Đánh chiếm kinh đô: Trong thị trường Taxi, Sài Gòn có quy mô doanh thu khoảng 50% cả nước, là nơi duy nhất đảm bảo doanh thu bình quân mỗi đầu xe 1,5-2 triệu đ/ngày. Hà Nội doanh số mỗi xe chỉ đạt 2/3 con số đó và các thành phố cấp 2 thậm chỉ chỉ được nửa. Cùng một mức đầu tư xe, cùng một chi phí vận hành quản lý (thậm chí cao hơn do quy mô nhỏ), không khó để nhận ra mảnh đất nào màu mỡ nhất và thành trì nào cốt tử nhất. Trong ngành Taxi, ai chiếm được Sài Gòn, người ấy là vua.

Mai Linh đã ngủ quên với số lượng đầu xe lớn, thương hiệu số một, khách doanh nghiệp đi thẻ rất đông (một phần nhờ yếu tố độ phủ rộng toàn quốc)… và công thức franchise phân quyền tới từng công ty con, công ty cháu đã giúp Mai Linh tăng trưởng trước mạnh mẽ trước đây. Tưởng như vị thế đó là bất khả xâm phạm. Nhưng việc phân tán sức mạnh cho quá nhiều đơn vị, dàn trải nguồn lực sang các lĩnh vực khác và sức ép quá lớn từ vốn vay đã khiến người khổng lồ Mai Linh tê liệt, gần như chỉ biết đứng nhìn để mặc cho đối thủ ra đòn knockout hiểm hóc.

Đã có rất nhiều quyết định được đưa ra tại Vinasun. “Vì sao lại là Toyota? Vì sao lại là Inova J/G? Vì sao quyết mua 300 xe đầu năm, 500 xe nữa cuối năm trong khi lãi suất cao chót vót? Vì sao lại phải quyết tử để lấy Khách sạn A, nhà hàng B, sàn nhảy C, bệnh viện D? Vì sao chưa tăng giá ngay dù xăng đã lên? Vì sao tỷ lệ chia cho tài 55-45 rồi 60-40? Giải quyết biểu tình lãn công ntn?…” đằng sau mỗi câu trả lời là những nghiên cứu kỹ lưỡng với phương án thực hiện tỷ mỉ để tối ưu lợi ích. Vinasun hiểu nhu cầu khách hàng, hiểu trận địa Sài Gòn, Đồng Nai, Bình Dương tới từng chân tơ kẽ tóc.

Bằng những nỗ lực không ngừng, quan hệ ngoại giao khéo léo, cơ chế chia sẽ lợi ích linh hoạt và nguồn lực tập trung, mỗi năm qua đi lại thấy Vinasun chiếm thêm được những cứ điểm quan trọng của Q1, Q3, sau đó là Q4, Q5, Q7, rồi hiện tại là hơn 900 điểm đón khách phủ khắp Sài Gòn. Số lượng xe cũng tăng lên nhanh chóng cùng với độ phủ của các cứ điểm. Doanh thu trên đầu xe vẫn tăng đều thuận chiều với số lượng xe sắm mới. 2010 Vinasun chính thức vượt mặt Mai Linh tính trên doanh số thu về từ thị trường Sài Gòn.

Những sai lầm:

Tuy vậy không phải bước đi nào cũng trải hoa, trận chiến nào cũng thắng lợi. VNS đã từng thử nghiệm dàn xe taxi siêu sang (camry) năm 2008 nhằm phục vụ lớp khách thượng lưu tại trung tâm Sài Gòn nhưng không thành công. Cái hay là họ nhận ra sai lầm và “cutloss” rất nhanh chóng trong năm 2009. Hay việc tìm tòi mở ra thị trường mới ở các thành phố cấp 2 như Bình Dương, Đồng Nai, Đà Nẵng, Cần Thơ cũng không dễ dàng. 2008 và 2011 là hai năm khó khăn nhất với công ty khi đang tăng tốc chạy ở tốc độ cao thì gặp con đường quá xấu, lãi suất vay có lúc chạm 20%. Tỷ lệ đòn bẩy 4-6 đã gặm đi một phần lợi nhuận lớn của công ty, nhưng mặt khác đối thủ cạnh tranh lần lượt rơi rụng. Ngoài ra, với những lợi thế quan hệ của anh Thành từ thời còn làm chủ tịch UBND phường Bến Thành Bến Nghé cộng với kinh nghiệm buôn bán đất trung tâm hàng chục năm qua giúp Vinasun tiếp cận được một số dự án BĐS. Thay vì ngập sâu vào đầu tư BĐS như Mai Linh, sai lầm lớn nhất của Vinasun chỉ là chậm trễ trong việc thoái vốn lô đất 717m2 tại Thủ Khoa Huân, sau lưng Chợ Bến Thành. Chậm trễ 1 năm (cuối 2009 tới cuối 2010) không những làm giá bán thấp đi mà còn khiến công ty phải chịu một gánh nặng lãi vay rất lớn cho khoản thu gần 300 tỷ này. Tuy vậy đến bây giờ nhìn lại, việc thoái vốn thành công lô đất này từ 2010 và không đầu tư thêm vào BĐS đã thể hiện tầm nhìn của ban lãnh đạo Vinasun.

Con đường phía trước:

Thị trường khốc liệt như chiến trường. Ngành taxi vẫn liên tục vận động nhưng ngôi vị số một đã có chủ nhân mới xứng đáng. Giai đoạn chiến đấu căng thẳng nhất (hy sinh lợi nhuận ngắn hạn) đã ở phía sau. Có lẽ thời gian tới, ưu tiên số một của Vinasun sẽ thay đổi, từ quyết liệt tăng trưởng thị phần sang gia tăng lợi nhuận biên tại các thị trường hiện có. Và biết đâu, đang có một sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho một cuộc đổ bộ tới thị trường lớn thứ 2 cả nước: Hà Nội.

Dù CP VNS rất kém thanh khoản và thiếu tính thị trường, tôi vẫn luôn muốn giữ cho mình một ít CP để có cơ hội dự ĐHCĐ và theo dõi các bước tiến của công ty hàng năm. Bài viết dông dài này đơn thuần để chia sẻ những hiểu biết cá nhân về Vinasun cũng như sự ngưỡng mộ của tôi với ban lãnh đạo từ những gì họ đã làm được.

Read more: http://vfpress.vn/threads/vinasun-vns-mat-troi-phuong-nam.4716/#ixzz2pDFHoocQ

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Thị trường chứng khoán tháng 10-2012 : Trời tháng 10 chưa cười đã tối?

Trung tuần tháng 9 vừa rồi, bên lề hội nghị APEC, Thủ tướng và quan chức Bộ Tài chính Indonesia đã nhận xét “tình hình kinh tế Việt Nam hiện rất giống Indonesia 1997 và với kinh nghiệm của mình, chính phủ Indonesia sẵn sàng giúp Việt Nam vượt qua khủng hoảng” (Link). Chúng ta hãy thử nhìn lại xem những năm 1997, tình cảnh Indo đã trải qua ra sao?

Indo 1996-2002:
 ​



Trong năm 1998, lạm phát tăng vọt 77%, GDP giảm 13%, dòng tiền đầu tư trực tiếp và gián tiếp đều rút chạy, bản tệ phá giá 300% sau 24 tháng, nợ xấu tăng gấp nhiều lần sau 1 năm. Sau đó, với sự giám sát của IMF, Indo mất 3 năm để xử lý nợ xấu và đưa nền kinh tế trở lại quỹ đạo tăng trưởng lành mạnh.

VIỆT NAM - VĨ MÔ

Tài khóa: Thâm hụt ngân sách 9 tháng đầu năm 6.9% GDP so với kế hoạch 4.8% GDP được quốc hội phê duyệt. Hoạt động kinh tế thu hẹp và một số chính sách miễn giảm thuế khiến nguồn thu giảm mạnh trong khi quán tính chi tiêu công không giảm tương ứng. Triển vọng tăng nguồn thu ngân sách trong thời gian tới là rất tối tăm khi các doanh nghiệp lẫn cá nhân đều đã kiệt quệ. Room cho nới lỏng tài khóa đã hết. Mọi hành động nới lỏng tài khóa từ thời điểm này thông qua tăng vay nợ công hay in tiền đều tiềm ẩn ảnh hưởng phụ (tín nhiệm nợ quốc gia, lạm phát…) lớn hơn tác động tích cực. Nhưng thực tế đã nhiều lần chứng minh, chẳng có mấy chính phủ trên thế giới tự mình thực hiện được các chương trình khắc khổ cắt giảm chi tiêu 3-5 năm để những thành quả phải chu kỳ sau mới thấy. Đa phần vẫn sẽ chọn cách tăng vay nợ, tăng cung tiền cho tới khi nào nền kinh tế suy yếu thực sự.

Tiền tệ: Nói về thiểu phát ở Việt Nam như thời gian qua là quá xa xỉ. Cung tiền (M2) vẫn tăng với tốc độ hơn 1%/tháng, chi tiêu công kém hiệu quả vẫn tăng khá. Áp lực điều chỉnh giá các mặt hàng thiết yếu về với giá thị trường còn rất lớn khi Điện, Nước, Than, Y tế, Giáo dục…vẫn tiếp tục điệp khúc thấp hơn “giá thị trường” 30-50%. Trên thị trường thế giới, in tiền không giới hạn ở Mỹ, EU, TQ… hứa hẹn sẽ đưa mặt bằng giá hàng hóa lên những đỉnh cao mới. Giai đoạn giảm CPI ở Việt Nam đã kết thúc chóng vánh và giai đoạn giảm của lãi suất cũng kết thúc. Giai đoạn kỳ vọng vào lạm phát giảm đẩy lãi suất giảm, tăng được tín dụng, và giải quyết nợ xấu êm đẹp cũng đã kết thúc. Kịch bản hạ cánh mềm đã không thành. Xác suất kinh tế đi vào lạm phát đình đốn trong thời gian tới bắt đầu tăng lên.

Có một cuộc chạy đua lãi suất huy động đang ngấm ngầm diễn ra. Huy động kỳ hạn 1-3 tháng đang vượt trần 3-5%. Thanh khoản NH đang thiếu hụt khi các trò ảo thuật với tài sản NH dần lộ sáng và nợ xấu đang trở nên quá lớn. Các NH tăng trưởng tín dụng mạnh nhất lúc này sẽ là những ngân hàng nguy ngập nhất. Các chính sách cho phép đảo, giãn, hoãn nợ trong thời gian vừa qua vô tình giúp các NH có cơ sở pháp lý che đậy các khoản nợ thực sự xấu. Tuy vậy vẫn có những điều không thể che đậy được, đó là thanh khoản và các hệ số tài chính cơ bản của NH.

 ​
Biểu đồ trên chỉ ra 2 điểm phi lý của hệ thống NH Việt Nam hiện nay:

1. Quy mô tổng tài sản NH và quy mô tín dụng/GDP quá lớn: thể hiện mức độ quá nóng của nền kinh tế và mức độ phụ thuộc vào vốn vay của KTVN. Với một nền KT kém cạnh tranh, rất ít thế mạnh nổi bật thì phần rất lớn trong dòng vốn vay NH đã được đổ vào các kênh đầu cơ hoặc đầu tư kém hiệu quả giữa đỉnh điểm của chu kỳ tăng trưởng. Điển hình là các ngành BĐS, CK, Tài chính, Ngân hàng, xi măng, thép, thủy sản, tàu biển,... Khi chu kỳ kinh tế đi xuống và giá tài sản giảm như hiện nay, các khoản đầu tư/đầu cơ này đều trở thành “của nợ” của các ông chủ và giới NH.

2. Hệ số TTS/huy động (hoặc tín dụng) của NH VN là gần 200%, một trong những nước cao nhất thế giới (các nước trong khu vực có hệ số này phổ biến ở mức 130-160%). Hiểu một cách nôm na, các NH huy động được 100 đồng thì ngoài cho vay tín dụng 100 đồng, còn tạo ra các sơ đồ thông qua các khoản mục như liên NH, trái phiếu DN, đầu tư tài chính, ủy thác, phải thu,… làm phình tổng tài sản lên gấp 2 lần số vốn huy động được. Điều rất khó lý giải tín dụng chỉ chiếm hơn 50% tổng tài sản nhưng lại đóng góp 80% lợi nhuận. Như vậy gần ½ số tài sản còn lại đóng vai trò gì trong hoạt động KD của NH? Xét trên cả quy mô, có thể nói Việt Nam hiện lọt vào top các hệ thống NH có chất lượng tài sản ảo nhất trên thế giới.

Ở các nước tư bản gạo cội, để tạo nên những cơ nghiệp trăm triệu $, các cá nhân/gia đình mất hàng chục năm thậm chí nhiều thế hệ lao động cật lực. Ở ta, chỉ sau một giai đoạn ngắn ngủi 2001-2009, hàng chục đại gia trăm triệu $ đã xuất hiện. Nhưng những mắt xích đầu tiên liên quan tới các đại gia thao túng tài sản NH đã và đang vỡ. Tiếp nối quá trình deleveraging đang diễn ra 1 năm qua, một lượng tài sản khổng lồ với quy mô khoảng 30% GDP có thể biến mất khỏi tổng tài sản NH trong 2-3 năm tới. Nhiều NH sẽ lỗ nặng, mất hết vốn chủ sở hữu. Nhiều đại gia sẽ quay về tay trắng. Deleveraging sẽ không còn là sự tự nguyện, tự quyết của người đi vay mà sẽ do chủ nợ quyết định… Khi các chủ nợ (NH) cũng không còn năng lực bảo kê, một cuộc call margin khổng lồ bắt đầu.

Trong cuộc họp báo cuối tháng 9 vừa qua, CP đã chính thức lùi về thời hạn hoàn thành tái cơ cấu NH xuống cuối 2013 thay vì “cuối quý này” như 3 lần hứa trước đây. Nợ xấu là căn bệnh ung thư lây lan nhanh, phẫu thuật cắt bỏ càng chậm, chữa khỏi càng khó và hậu quả càng nặng nề.

Nói cho dễ hình dung, việc các NH dung túng cho các khoản nợ thối với hy vọng chúng sẽ thơm trở lại hoặc con nợ đủ khả năng tài chính bù đắp các chi phí cũng không khác gì việc các công ty CK như TLS, SBS, SME, Hà Thành,…đã từng bao che cho các tài khoản margin của các khách hàng vip và thân hữu của các lãnh đạo. Với khả năng huy động tiền gửi và hỗ trợ thanh khoản từ NHNN, các NH và tổ chức TC có khả năng cầm cự tốt hơn nhiều so với các CTCK. Tuy vậy chuyện gì phải đến sẽ đến.

THỊ TRƯỜNG CK:

Những phân tích về triển vọng KQKD rất yếu kém như trong bài phân tích Q3 đang được hiện thực hóa và vẫn giữ nguyên giá trị cho Q4. BĐS, NH, Tài chính, vận tải biển… đều nằm trong danh sách những cái chết đã được báo trước. Vài điểm sáng hiếm hoi trong ngành dầu khí, hàng tiêu dùng,… chỉ le lói như những ánh nến trong đêm.

Thị trường vẫn tiếp tục tích lũy thêm các điều kiện cho một sóng hồi. Tôi vẫn hay nói về 4 điều kiện để có sóng lớn trong downtrend: (1) Thanh khoản, (2) Thời gian giảm, (3) Mức độ giảm, và (4) Cái cớ để tăng.

1. Thanh khoản (tính trên % tổng giá trị vốn hóa thị trường): đã giảm về mức rất thấp, tương đương những ngày đầu 1/2012. Tính thêm cả hiệu ứng GD buổi chiều và T+3 thì mức thanh khoản này càng thể hiện sự cạn kiệt của cả dòng tiền đầu cơ và cả nguồn cung. Đây không phải là điều kiện đủ nhưng nếu muốn trở thành 5% chiến thắng thị trường, bạn phải mua trong những vùng thanh khoản siêu thấp này. Quy luật muôn đời vẫn là lợi nhuận lớn không thuộc vê đám đông

 ​
2. Thời gian giảm: Không ai có thể phủ nhận chứng khoán là trò gây nghiện, và 5 tháng giảm liên tục là thời gian nhịn đủ dài. Đối với đa phần môi giới, trader, NĐT cá nhân hay nói chung là các con nghiện sống bằng nghề chứng khoán thì ngừng giao dịch 3 tháng đã là một cực hình. Vì thế nhiều người đã rất muốn quay lại thị trường để được full-margin, tất tay cho thỏa mãn cơn nghiện ấy. Nhiều con nghiện chứng khoán đã tạm tìm các trò tiêu khiển khác như trading vàng, FX hay Poker để dằn lòng trong lúc chờ đợi. Họ vẫn sợ hãi nhưng đã sẵn sàng thiêu thân khi có ngọn lửa bốc lên.

3. Mức độ giảm: 25-35% của 2 index là mức giảm khá sâu. Rất nhiều mã beta cao đã có đáy mới, đa phần thuộc các ngành nghề đã được điểm mặt. Các mã trong danh sách top giảm có PB phổ biến ở mức 0.2-0.5x. Thị trường CK luôn đi trước. Hiểu nôm na là thị trường kỳ vọng các mã này sẽ lỗ gần hết giá trị sổ sách trong thời gian tới. Tuy nhiên sự phân hóa trong Q3 là rất lớn, những mã Bluechips có kết quả kinh doanh ổn định vẫn chưa giảm giá nhiều so với đỉnh. Đây là điều còn thiếu để thị trường trở nên hấp dẫn.

Dưới đây là top các mã có mức giảm mạnh nhất từ đỉnh 8/5/2012 (GD > 500tr.đ/phiên)​

 ​

4. Cái cớ để tăng:​

Định giá: trong tất cả các lần có sóng lớn trước đây, một điều kiện tiên quyết là phải có một bộ phận không nhỏ các CP giảm về mức định định giá thực sự hấp dẫn. Các mã này sẽ hãm đà giảm của thị trường và dẫn dắt đà tăng sau đó. Nhìn vào danh sách top những CP giảm giá nhiều nhất, cảm giác chung là mức giảm này xứng đáng, và đây chưa phải là đáy của hầu hết các CP trên. Vẫn quá khó để chọn ra một danh sách những CP thực sự rẻ, thực sự đáng thèm muốn vào lúc này. Một mức giảm 10-20% với mặt bằng giá hiện nay sẽ đưa nhiều CP vào vùng hấp dẫn để đầu tư. 

Triển vọng: Khi định giá ko rẻ, thị trường chỉ có thể tăng dựa trên kỳ vọng mà tương lai thì quá tối tăm và bất định. Có nhiều câu hỏi lớn cần được trả lời trong tháng 10 để các đạo diễn vẽ nốt kịch bản cho “thập kỷ mất mát 2006-2015”. Một điều chắc chắn là dù thế nào thì sắp tới xác suất lớn kinh tế vẫn tiếp tục yếu, doanh nghiệp đổ vỡ là điều không tránh khỏi. Với bức tranh FA như vậy, vẫn là quá rủi ro cho ai muốn làm kền kền rỉa xác gấu khi nó chưa chết.

Khi cả xã hội đang nghèo đi vì vỡ nợ, thất nghiệp, hay tệ hơn là kiện cáo, tù tội, và CK vẫn giảm đều thì những ai đang giữ tiền mặt cũng nên tự động viên rằng mình đang giàu lên so với mặt bằng chung. Những ai kiên nhẫn chờ đợi sóng lớn từ sau đỉnh 8/5 đang tạm nắm một lợi thế nhỏ. Nhưng cơ hội lớn trên đường hình thành luôn tạo ra nhiều bull-trap. Trong khủng hoảng kiểu này sẽ có những CP giảm tới 95-97% giá từ đỉnh, bạn quyết định mua khi cổ phiếu đã giảm 90% tưởng như đã quá rẻ nhưng tài khoản vẫn mất đi hơn nửa. Giảm nhiều không phải là đủ. Luôn cần một cái cớ lớn để tạo sóng lớn.

Khi bão lớn đang hoành hành ngoài kia, tốt nhất là đóng kín cửa xem nốt bộ phim “Bao giờ cho đến tháng 10” và hy vọng một cái cớ lớn sẽ xuất hiện sau khi mặt bằng giá đã giảm thêm!

Ghi nhớ một điều: top 5% chiến thắng thị trường sợ nhất là mất tiền trong khi số đông còn lại sợ nhất là mất cơ hội!​

Read more: http://vfpress.vn/threads/thi-truong-chung-khoan-thang-10-2012-troi-thang-10-chua-cuoi-da-toi.3909/#ixzz2pDP7FflP

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012

Cơ hội “hạ cánh mềm” cho nền kinh tế Việt Nam?

Nợ xấu của các NH vẫn đang tăng trong nửa đầu 2012. Ai làm banking analyst sẽ thấy khoản phải thu của khách hàng trong BCTC của nhiều ngân hàng tăng mạnh. Họ đã hạch toán những khoản lãi vay mà khách chậm trả (hoặc không thể trả) vào thu nhập từ lãi vay. Thống kê toàn hệ thống con số này hiện là 42.000 tỷ đồng tăng hơn 2 lần so với cuối 2010. Nếu lấy lãi suất cho vay bình quân 14% (cả USD và VND) thì 42.000 tỷ đồng thu nhập từ lãi vay hạch toán sai này đến từ 300.000 tỷ tín dụng không trả được lãi vay đúng hạn nhưng vẫn đang được để ở nợ nhóm 1 (nhóm được phép hạch toán thu nhập lãi vay). Lợi nhuận công bố của các NH đang được bơm thổi từ 2 nguồn:

1. Hạch toán thiếu nợ xấu => hạch toán thiếu dự phòng

2. Hạch toán sai thu nhập lãi vay từ các khoản vay ko còn khả năng trả lãi khi đúng ra các khoản vay này phải được đưa vào các nhóm nợ xấu tương ứng.

Các doanh nghiệp Việt Nam từ NH đến BĐS và các loại hình DN khác vẫn đang trong giai đoạn cố gắng làm đẹp con số lợi nhuận bằng cách che đậy các khoản lỗ thực tế vào các khoản mục: phải thu, hàng tồn kho, xây dựng dở dang... NH và DN đang sống với hy vọng một kịch bản “hạ cánh mềm” rằng 3-5 năm tới, đà hồi phục của nền KT sẽ tự giúp họ xóa dần các khoản lỗ, nợ xấu... và lại rũ bùn đứng dậy sáng lòa.

Cách làm này khả thi trong điều kiện quy mô các khoản nợ xấu là nhỏ so với GDP, và GDP vẫn giữ nhịp tăng trưởng mạnh trong môi trường quốc tế thuận lợi (VN 1998-2000, TQ 1993-1995). Việt Nam hiện nay không có đủ các điều kiện cho kịch bản hạ cánh mềm!

Khi khủng hoảng xảy ra ở Indonesia và Thái, chỉ trong 1 năm 1998, vốn CSH của toàn hệ thống NH đã âm. Các DN BĐS lớn nhất của Thái đã chấp nhận bán tháo hàng tồn kho và book lỗ lớn trong 3 năm liền để thoát khỏi cảnh nợ nần, duy trì sự tồn tại. Mặc dù vậy, nợ xấu trong hệ thống NH tiếp tục ở mức cao trên 30% trong suốt giai đoạn 1998-2001. Tăng trưởng GDP Thái giai đoạn này chỉ bằng chưa tới ½ mức trung bình giai đoạn 1991-1996. Chỉ khi Thaksin lên nắm chính phủ và kinh tế thế giới chao đảo sau bong bóng dotcom, các nhóm lợi ích mới chấp nhận buông bỏ hy vọng hạ cánh mềm và nợ xấu được xử lý triệt để hơn (giảm xuống dưới 10%). Kinh tế Thái và SET index tăng tốc trở lại từ 2002.

Ở Việt Nam, thậm chí chúng ta còn chưa tới giai đoạn các thực tế thua lỗ, khó khăn được phản ánh trung thực vào báo cáo kết quả kinh doanh và làm hụt đi đáng kể (thậm chí biến mất) vốn CSH của nhiều NH và DN. Điều này nếu xảy ra trong nửa cuối 2012 và 2013 sẽ đưa các con số thống kê PB, PE và cả Index về mức thực chất của nó. TTCK Việt Nam, ở mức định giá có phần ảo hiện nay, thậm chí còn chưa rẻ hơn so với mặt bằng chung khu vực và thế giới. (PE 10.x vs. 9.x của Global Emerging Market - Bloomberg).

Đầu năm nay nhiều người (trong đó có tôi) đã kỳ vọng vào kịch bản NHNN đủ khả năng làm triệt để và nhanh việc tái cơ cấu NH và nợ xấu. Khi đó các con số xấu xí sẽ bộc lộ. Khi không được đảo nợ, giãn nợ, các công ty cũng buộc phải đẩy nhanh quá trình bán rẻ tài sản, dự án để book lỗ hoặc thậm chí phá sản. Khi ấy đáy của TTCK sẽ là một đáy thực chất hơn và sâu hơn so với đáy đã có vào 1/2012. Nhưng thay vì một đáy sâu và triệt để như vậy, chính phủ, NHNN và cả các ông chủ doanh nghiệp đang chọn cách tạo những đáy nông và hy vọng vào "hạ cánh mềm".

Thực tế đang cho thấy, chỉ khi nào tất cả cùng thừa nhận kịch bản hạ cánh mềm không khả thi và chấp nhận từ bỏ những nỗ lực che dấu số liệu để kéo dài sự sống ngắc ngoải thì lúc đó thị trường mua bán nợ mới có cơ hội phát triển thực sự và cục máu đông nợ xấu mới tiêu tan. Lúc đó sẽ có các cơ hội cho đầu tư đích thực để đón một chu kỳ phục hồi mới của kinh tế và TTCK.

Còn bây giờ, việc thú vị là chờ xem những quân domino tiếp theo sẽ đổ như thế nào sau Vinashin, Vinalines, Bianfishco, SHN, VSP.... Đó sẽ là những mắt xích yếu nhất trong hệ thống của từng ngành nghề, là những công ty kiểm toán có ý kiến về khả năng hoạt động liên tục. Có thể điểm một vài cái tên đáng chú ý ngay trên 2 sàn niêm yết (tổng tài sản trên 1000 tỷ): STL, HQC, NTB, VPH, PDR, UDC, PVA, HUT, CNT, QNC, PVF,SBS, AGR, BSI, THV, TTF, DDM, VOS, VST, VNA, HT1, BCC,… và cả VCG.

Read more: http://vfpress.vn/threads/co-hoi-%E2%80%9Cha-canh-mem%E2%80%9D-cho-nen-kinh-te-viet-nam.3390/#ixzz2pDM6y5zg

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2012

Chứng khoán tháng 7/2012 : Quý 3, điểm tựa nào cho một con sóng lớn?

Con sóng nửa đầu năm 2012 có thể gọi tên là Sóng tăng vì tài sản rẻ. Index tăng 50% khi được hỗ trợ bằng tin tốt vĩ mô dồn dập: CPI hạ, Lãi suất hạ, và chính sách chuyển từ thắt chặt sang cởi mở hỗ trợ tăng trưởng. Kết thúc con sóng này PB trung bình của thị trường đã tăng từ dưới 0.9x lên 1.3x cho cả 2 sàn, cũng là mức định giá không còn rẻ ngay cả so với các TTCK thế giới.​

Từ đây, thị trường muốn tăng tiếp cần sự tiếp sức của kết quả kinh doanh tích cực và điều này đã không đến như 2009. Lãi suất đã hạ đáng kể, chính sách đã nới nhưng tín dụng vẫn không thể tăng, dòng tiền vẫn không chảy mạnh. Kinh nghiệm khủng hoảng các nước khác cho thấy, khi nợ xấu chưa được xử lý triệt để, đào thải các doanh nghiệp, ngân hàng yếu kém và tái cơ cấu chưa hoàn thành thì kinh tế chưa thể cất cánh. GDP có thể đã tạo đáy trên số liệu, nhưng thực trạng khó khăn vẫn tiếp tục bao trùm các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Quá trình khó khăn này có thể diễn ra nhanh là 1-2 năm, lâu tới 5-7 năm tùy thuộc vào quyết tâm cải tổ của chính phủ.

Cho đến lúc này, NHNN đã làm rất nhanh việc hạ lãi suất nhưng liên tục lỡ hẹn về tái cơ cấu các ngân hàng và xử lý nợ xấu. Có điều gì đó vượt quá khả năng tiên liệu và ra quyết định của NHNN? Xử lý nợ xấu triệt để sẽ đẩy nhiều ông chủ ngân hàng và chủ các doanh nghiệp yếu kém tới trắng tay. Đây rõ ràng là quyết định khó khăn. Hiện tại thì các ngân hàng zoombie, các doanh nghiệp zoombie vẫn tồn tại, cục máu đông nợ xấu vẫn tiếp tục phình to từng ngày và làm tắc nghẽn dòng máu lưu thông. Tình hình này kéo càng dài thì nền kinh tế không những khó phục hồi mà còn có nguy cơ suy yếu trở lại.


Nhìn vào vi mô, BCTC Q2 sắp ra lò. Những nhóm ngành có vốn hóa lớn nhất và có ảnh hưởng nhất tới thị trường vẫn chưa thấy những nét tích cực.

Ngành NH (vốn hóa lớn nhất): 
Bảng tổng hợp số liệu ngành vào ngày 30/04/2012 cho thấy một số thông tin quan trọng:
[​IMG]

Ghi chú: 
- ROE, ROA là số liệu Quý 1 năm 2012
- Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động tính trên thị trường I (theo chỉ thị 01)

-Hệ số tín dụng/huy động dù giảm so với mức trên 100% trong năm 2011 nhưng vẫn ở mức cao. Tỷ lệ này cho thấy khả năng cải thiện thanh khoản và mở rộng tín dụng thời gian tới là thấp vì phụ thuộc vào tốc độ huy động vốn. Hệ số này ở các nước trong khu vực phổ biến ở mức 65-85%. 

-Tổng tài sản lớn gấp gần 2 lần tổng vốn tín dụng (khoảng 2.500.000 tỷ đồng) cho thấy mức độ phức tạp và ảo của BCTC các NH. Hệ số này của các nước khác phổ biến ở mức 1,2-1,5 lần.

-Nợ xấu: Thống đốc NHNN công bố trước Quốc hội con số 10% tổng dư nợ và có xu hướng tăng lên. Số liệu mới công bố của NHNN đã hé lộ một quả bom nổ chậm khác. Với quy mô không nhỏ, 169.000 tỷ tổng tài sản, các công ty tài chính và cho thuê tài chính đang là nhóm có các hệ số tài chính tồi tệ nhất trong hệ thống. Họ cho vay 1,4 lần vốn huy động, đã lỗ vào ít nhất là 40% vốn chủ, hiệu quả hoạt động rất thấp. Các công ty này hầu hết mới thành lập, trực thuộc các tập đoàn, hoặc ngân hàng mẹ, ít kinh nghiệm và cơ chế kiểm soát rủi ro lỏng lẻo. Sự bất ổn của nhóm này sẽ tác động mạnh tới cả hệ thống tài chính và các Tổng công ty, Tập đoàn mẹ vốn đang chịu áp lực thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Ngoài ra việc khó huy động trái phiếu gần đây của VDB cũng là chỉ báo sớm về sự lo ngại của thị trường về hiệu quả hoạt động và khả năng trả nợ của ngân hàng này.

Hệ thống NH còn rất nhiều vấn đề cần giải quyết và những tuyên ngôn của các lãnh đạo về việc “sẽ bơm 50 ngàn tỷ làm tăng tín dụng 2-2,5% mỗi tháng” đang gửi những thông điệp sai lệch và phi thực tế tới thị trường. Deleveraging vẫn đang tiếp diễn, tín dụng từ nay tới khi giải quyết xong nợ xấu sẽ khó có giai đoạn nào tăng quá 1-1.5%/tháng.

Mặc dù niêm yết chủ yếu là các ngân hàng đầu đàn, nhưng kết quả kinh doanh công bố sẽ không mấy lạc quan. Dư nợ tín dụng không tăng trong khi áp lực hạ lãi suất cho vay sẽ khiến NIM giảm dần. Dự phòng nợ xấu đang tăng khá mạnh. Các mảng dịch vụ, nguồn thu khác đều khó khăn. Những tiết lộ của thống đốc NHNN vừa qua đã cho thấy kết quả kinh doanh và nợ xấu thực tế của hệ thống ngân hàng trong năm 2011 xấu hơn rất nhiều so với các con số báo cáo đưa ra (HBB là một ví dụ điển hình). Nếu việc mua bán nợ xấu được tiến hành minh bạch thì các khoản lỗ sẽ hiện ra trên báo cáo tài chính các tổ chức tín dụng. Năm 2012 sẽ là giai đoạn số liệu phản ánh khó khăn chung của toàn hệ thống ngân hàng vốn chưa được thể hiện trong giai đoạn trước. Với định giá bình quân các ngân hàng niêm yết đang ở PB 1.7x, CP ngành này không còn nhiều động lực tăng giá.

Ngành BĐS, XD, VLXD (số lượng CP nhiều nhất):

[​IMG]
Các biểu đồ trên, từ số liệu các doanh nghiệp niêm yết ngành BĐS và liên quan, cho thấy những khó khăn ngành này đang trải qua. Hàng tồn kho và xây dựng dở dang vẫn tiếp tục tăng cao, dư nợ vay ngắn hạn chưa hề giảm trong khi tiền mặt gần như cạn kiệt. Nếu loại trừ 5-7 doanh nghiệp có số dư tiền cao nhất, thì tiền mặt trong tài khoản của hơn 160 công ty còn lại trong ngành này chỉ còn lại hơn 10 tỷ/công ty, nhiều trường hợp không đủ bù đắp chi phí hoạt động chứ chưa nói tới nghĩa vụ nợ với NH và đối tác.

Không còn nhiều lựa chọn với DN BĐS. Từ Q3 sẽ là giai đoạn quyết liệt bán rẻ để tiêu thụ hàng tồn kho, trả nợ và thu hẹp hoạt động. Các dự án sẽ được mở bán ở mức giá thấp hơn mặt bằng hiên tại. Nhưng sức tiêu thụ của thị trường quá yếu sẽ không giúp các DN ngành này bán được nhiều hàng, đặc biệt là các dự án mới chỉ trên giấy. Sau 1-2 quý nữa, các DN BĐS tiếp tục nhận ra việc LS hạ không giúp họ đẩy được hàng đi như dự tính. Sức ép vay nợ sẽ tiếp tục đẩy các DN này đến chỗ phải bán cả dự án với giá thấp. Tuy nhiên cũng chỉ những dự án sạch, đẹp và rẻ mới bán được vì người mua cũng hiểu khả năng chôn vốn 3-5 năm trước khi có thể đưa vào kinh doanh. Sẽ có nhiều DN không có thành phẩm, không còn dự án tốt để bán. Thái Lan có hơn 2000 DN BĐS năm 1997, tới 2001 chỉ còn hơn 200. DN BĐS niêm yết trên sàn SET có 30 đầu ngành cũng giảm về 23 sau khi khủng hoảng đi qua. Hai sàn Việt Nam niêm yết nhiều, hàng lởm khởm cũng nhiều, hơn 70 Cty BĐS, gần 100 công ty Xây lắp, vật liệu xây dựng, liệu còn trụ lại được bao nhiêu?

BCTC Q2 và cả năm 2012 của các DN BĐS sẽ yếu kém với nhiều DN báo lỗ, doanh thu giảm mạnh so với cùng kỳ. Con sóng BĐS nhen nhóm hồi đầu năm đã bị dội một gáo nước lạnh vào tháng 4, tháng 5 với BCTC Q1 ảm đạm. Thêm số liệu quý 2 và triển vọng u ám trong các quý tới sẽ khiến CP dòng BĐS chịu áp lực bán rất lớn. Những con sóng nếu có sẽ là sóng hồi nhanh từ đáy giảm sâu chứ không thể có sóng dài từ KQKD tốt. Trongquý 3, có thể thị trường sẽ chứng kiến nhiều CP BĐS có đáy mới. Những trường hợp đột ngột giảm cả chục phiên sàn khi khớp ½ hay ¾ công ty như các trường hợp ASM, DLG, hay một số cổ phiếu khoáng sản… có lẽ sẽ xuất hiện nhiều thêm. Khi bán dự án quá khó khăn hay khi trả hết nợ thì cũng bay hết vốn CSH, thì bán luôn cả doanh nghiệp bằng cách này hay cách khác cho các NĐT nhỏ lẻ trên sàn niêm yết có vẻ là phương án đang được tính đến.

Khi nhóm CP có vốn hóa lớn nhất và nhóm CP có nhiều DN nhất đều có triển vọng kinh doanh không tốt, có lẽ điểm sáng ở một vài công ty lẻ loi khác khó tạo được xu hướng cho thị trường cũng như thu hút dòng tiền để tự tạo xu hướng riêng.

Vậy cơ hội nào chờ đón chúng ta trong thời gian tới?

Nếu định nghĩa SÓNG LỚN là những lần thị trường tăng kéo dài với mức tăng của toàn index trên 30%, thì CK Việt Nam đã chứng kiến hơn 10 con sóng lớn như vậy trong 6 năm qua (2006-2012). Trung bình mỗi năm chúng ta lại có 2 con sóng lớn. Nhưng nếu không biết chốt lãi thì những ai nắm giữ cổ phiếu tại hầu hết mọi thời điểm trong suốt 6 năm qua đều đang thua lỗ. Việt Nam quả đúng là “Thiên đường cho lướt sóng, Địa ngục của đầu tư”. Một góc nhìn khác, nếu coi toàn bộ nền KTVN là một doanh nghiệp thì mã cổ phiếu VNI này là một doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, vay nợ nhiều nhưng đầu tư dàn trải, thiếu ngành nghề cốt lõi, thiếu minh bạch trong công bố thông tin và ban lãnh đạo không đề cao lợi ích cổ đông. Với FA như vậy, cổ phiếu này sẽ có beta cao và chỉ phù hợp với dòng tiền đầu cơ.

Khi không có những lý do đủ để tạo sóng tăng mạnh và dài như 2006, 2009, hay đầu 2012, dòng tiền sẽ lại rời bỏ thị trường và giao dịch sẽ lại nguội lạnh. Những tin xấu không bao giờ thiếu của một thị trường Frontier sẽ lại nhấn chìm index xuống mức quá bán đủ hấp dẫn để những ai kiên nhẫn lại có cơ hội mua đón sóng hồi lớn. Lịch sử đã cho thấy trong bất kỳ bối cảnh vĩ mô hay xu hướng lên xuống nào, mỗi năm TTCK VN đều có trung bình 2 SÓNG LỚN.[​IMG]
Index Gains 2006-2012 

Warren Buffett cũng đã nói: “Market is designed to transfer money from the Active to the Patient”. Ông làm nên cả gia tài đồ sộ chỉ với hơn chục lần ra những quyết định đầu tư lớn trong suốt quãng thời gian hơn 60 năm làm đầu tư. Có lý gì chúng ta không chờ được 6 tháng cho một cơ hội thật hấp dẫn và rõ nét.

Read more: http://vfpress.vn/threads/thi-truong-chung-khoan-thang-7-2012-quy-3-diem-tua-nao-cho-mot-con-song-lon.3345/#ixzz2pDIp2hXA

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Chứng khoán tháng 4-2012: Quý 2 Kinh tế tạo đáy, chứng khoán đi lên

Chào Q2 2012!
[​IMG]
Nguồn: Merrill Lynch, SGI Capital
Những con sóng CK lớn luôn đi cùng sự chuyển biến về vĩ mô. Q1 chứng kiến:
- Tăng trưởng GDP Q1 suy giảm nhanh chóng: 4% (-)
Sự giảm tốc của CPI: từ 18.58% Q4 2011 xuống 14.15% (+)
Hạ nhiệt của lãi suất: LS cho vay phổ biến giảm từ 19-25% xuống 16-22% (+)
Ổn định ngạc nhiên của tỷ giá, ảm đạm của thị trường vàng, BĐS (+)
Đây là những đặc điểm đặc thù của nền kinh tế trong giai đoạn Reflation: Suy thoái + lạm phát
Giai đoạn này, kênh đầu tư trái phiếu lên ngôi. Bộ phận nguồn vốn của những ngân hàng nhạy bén đã thu lợi không nhỏ trong Q1 từ việc mua mạnh trái phiếu chính phủ hay trái phiếu doanh nghiệp. Mặc dù ở quy mô và biên độ lợi nhuận thấp hơn, nhưng nó gợi cho chúng ta nhớ lại giai đoạn Q3-Q4 2008, khi nền kinh tế Việt Nam cũng trải qua 1 mini Reflation.
Cuối giai đoạn Reflation này (Q3 2011 – Q2 2012) cũng là lúc giá cổ phiếu tạo đáy. Dòng tiền nhạy bén kích hoạt những con sóng đầu tiên đi lên thanh thoát khi thanh khoản chung kiệt quệ và áp lực bán còn hạn chế. TTCK Q1 đã chứng kiến những con sóng như thế, đáy đã được tạo đầy bất ngờ! 
(nếu bác nào còn nhớ thì anh em Vfpress ta đã làm cái voting “Lúc nào TTCK tạo đáy” vừa đúng vào lúc đáy hình thành :D)
[​IMG]
Nguồn: Dragon Cap
Trong 5 năm qua chắc hiếm có TTCK nào trên thế giới lại nhiều sóng lớn như VN. Chart biến động cung tiền, tín dụng, CPI từ 2006-2012 cho ta lý giải rõ nét. Chỉ trong vòng 5 năm, VN đã trải qua tới 2 mini cycle => thiên đường cho lướt sóng, địa ngục của đầu tư!
Chart trên đang cho thấy một diễn biến mới lạ nhiều năm qua chúng ta chưa từng thấy: tăng trưởng cung tiền và tín dụng YoY dưới 5%. Thậm chí 9 tháng trở lại đây gần như không tăng trưởng. Deleveraging đã diễn ra gần 1 năm và sẽ còn tiếp diễn 1-2 năm (theo thống kê McKinsey).
Nếu mọi cái diễn ra tự nhiên như chu kỳ đã định, có thể tin rằng CPI trong vài quý tới sẽ tiếp tục giảm và không còn là mối quan ngại của chính sách kể từ cuối Q2. Khi tổng cầu suy giảm quá mạnh thì việc tăng 10% giá xăng hay 5-10% giá điện không còn kích hoạt té nước theo mưa. Theo lộ trình, cuối Q2 là giai đoạn chỉ định hợp nhất nhóm NH yếu kém đã xong và thanh khoản hệ thống đã ổn định hơn, trần LS có thể đã được gỡ bỏ. Trọng tâm chính sách từ cuối Q2 sẽ là xử lý nợ xấu NH, hạ nhanh lãi suất và hỗ trợ tăng trưởng.
Trong bối cảnh vĩ mô như thế, cổ phiếu sẽ tiếp tục được dòng tiền lựa chọn. Có điều nhịp tăng trong năm nay của TT sẽ có nhiều nét khác biệt so với 2009.
Chu kỳ tạo đáy và phục hồi của giá CP trong cách nhìn của tôi thường chia là 2 giai đoạn:
1. Tăng vì tài sản rẻ. Người mua lúc này chưa nhìn vào PE (đang bị méo bởi Earning xấu, thậm chí âm) mà nhìn vào giá trị tài sản theo PB thấp và chất lượng tài sản tốt. Giai đoạn này tương ứng từ tháng 2-6/2009, và từ tháng 1-5/2012. Hoạt động thâu tóm DN giai đoạn này diễn ra sôi động cũng vì điểm mấu chốt là tài sản giá rẻ. Giai đoạn này PB bình quân thị trường giao động trong biên độ 0.8x-1.3x, tương ứng với mức tăng 50-70% của index.

2. Tăng vì lợi nhuận cải thiện. Giai đoạn này NĐT tìm mua các Cty có triển vọng tăng trưởng LN đột biến, và thị trường chuyển từ tìm mua PB rẻ sang PE rẻ (vì thực tế mặt bằng định giá PB đã quay về mức bình thường). Năm 2009 đằng sau các CP tăng 400-700% như DRC, BMP, VIS, HSG, NTL…là bức tranh EPS tăng tính bằng nhiều lần so với năm liền trước, khiến cho định giá PE trở nên rẻ ngay cả khi giá CP tạo đỉnh. PE của các CP nêu trên khi tạo đỉnh 10/2009 đều chưa vượt quá 10,x.
Năm nay, dù đã bỏ nhiều công tìm kiếm, tôi không thấy nhiều ngành/DN có khả năng tạo đột biến về LN như những gì đã xảy ra trong năm 2009. Vài lý do khả dĩ giải thích điều này:
- Cung tiền không nới rộng ồ ạt với lãi suất cực thấp như 2009. 2012 và nửa đầu 2013 sẽ chứng kiến lãi suất cho vay giảm dần về mức thấp (12-15%) nhưng tăng trưởng cung tiền và tín dụng sẽ rất hạn chế. Năm nay, tôi tin rằng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và M2 15-17% sẽ không thể đạt được. Con số tăng trưởng tín dụng khả dĩ nền kinh tế có thể hấp thụ là 5-10% năm nay. Bản chất của giai đoạn Restructure và Deleveraging là toàn bộ các thực thể của nền kinh tế co về trạng thái phòng thủ, tâm lý thận trọng với đầu tư mở rộng là phổ biến và sẽ mất một thời gian dài để chuyển dần sang tích cực, lạc quan. Trung Quốc 1993 và Asean 1998 đều trải qua 2-3 năm tăng trưởng tín dụng âm so với GDP.
[​IMG]
Nguồn: index mundi
Sóng giá commodities trên thế giới và trong nước không có diễn biến quá mức như trong năm 2008 – 2009. Con sóng này khiến rất nhiều DN ngành thép, nhựa, cao su chuyền từ lỗ sang lãi khủng chỉ trong 3-4 quý => tạo nên một trong những con sóng EPS và sóng giá CP lớn nhất lịch sử dòng CP commodities này.

BĐS/xây lắp đóng góp khoảng ½ vào danh sách top CP tăng khủng nhất 2009. BĐS 2009 khác xa với câu chuyện BĐS 2012. Năm nay, phần lớn các công ty BĐS sẽ ghi nhận DT rất thấp và LN âm, dòng tiền âm, thậm chí một số DN sẽ phá sản. Câu chuyện giá vốn thấp, lãi đột biến sẽ là rất hiếm.
Có thể kết luận: chúng ta đang chứng kiến nửa cuối giai đoạn 1 “Tăng vì tài sản rẻ” - đoạn index tăng với độ dốc lớn nhất. Trong môi trường LS giảm dần như hiện nay, giá CP sẽ tiếp tục tăng lên. Tuy nhiên với sự cải thiện rất chậm của KQKD, nhịp tăng thứ 2 “Tăng vì lợi nhuận cải thiện” (từ Q3 2012) index sẽ có độ dốc thấp hơn nhiều.
Có một số yếu tố có thể làm méo kịch bản này:

Kinh tế thế giới bất ổn: nợ công EU vỡ lở hay chiến tranh ở đâu đó bùng phát sẽ làm thay đổi mạnh giá cả hàng hóa và dòng tiền.

Điều hành của chính phủ: những gì NHNN và chính phủ đã làm trong 6 tháng qua là đúng hướng và đáng lạc quan, mọi cái đang cải thiện chậm và chắc. Nhưng nếu hoạt động tái cơ cấu hệ thống ngân hành đi chệch hướng, chính sách lãi suất, cung tiền, tỷ giá, và điều hành giá cả xăng dầu, điện… bất hợp lý, gây bất cho thị trường thì kịch bản TTCK cũng thay đổi rất nhanh.
Dòng tiền lạ và lớn (M&A, ETF…) trong những giai đoạn nhất đinh sẽ tác động bất thường tới diễn biến thị trường và một số nhóm cổ phiếu. 

Theo quan điểm đầu tư/trading của tôi, chúng ta nên xác định rõ ràng vài điểm:

Trend của thị trường trong 2012 là tích cực, các chiến binh cuối cùng đang có 1 năm tuyệt vời chứ không phải năm tồi tệ.

Nhưng độ dốc của trend là vừa phải, đặc biệt từ thời điểm này trở đi. Sóng lên sẽ ôn hòa trong một môi trường cung tiền còn khan hiếm và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cải thiện chậm.

Trong ngắn hạn, đòng tiền đầu cơ sẽ luôn đổ vào dồn dập, rút ra vội vã, không bao giờ để thị trường đi lên túc tắc theo đúng theo độ dốc thoải của diễn biến vĩ mô và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng chính sự quá đà này của tiền đầu cơ luôn tạo ra cơ hội mua rẻ bán đắt. Lợi nhuận lớn không bao giờ thuộc về số đông.
Chiến lược phù hợp với cá nhân tôi là:

Nắm giữ một trạng thái core dài hạn những CP có định giá PB còn thấp và có kết quả kinh doanh sẽ cải thiện vượt trội. (Tôi ưa thích nhóm cổ phiếu chứng khoán có thị phần top 20, bất động sản, xây lắp, vật liệu xây dựng đầu ngành, và một số ít doanh nghiệp ngành hàng thực phẩm, tiêu dùng).

Mua trading/margin khi index điều chỉnh giảm về tiệm cận và ở dưới trendline với thanh khoản khá thấp, và ngược lại bán khi thị trường đi vào over bought với thanh khoản cao.
Tuân thủ theo chiến lược này thì sang tuần đầu tháng 4, một số tiêu chí để mua trading đã bắt đầu xuất hiện rồi. Chúc các bạn một Q2 đại thành công!


Read more: http://vfpress.vn/threads/chung-khoan-thang-4-2012-quy-2-kinh-te-tao-day-chung-khoan-di-len.2938/#ixzz2pDFYIQtO